TRANG CHỦ
  Liên hệ  | Tìm kiếm  | Sơ đồ Website  | English    
Thứ 3, ngày 29/7/2014  
   Giới thiệu Viện
   Tin tức, hoạt động
   Hội thảo khoa học
   Nghiên cứu khoa học
   Thông tin Khoa học
   Đề tài, Dự án
   Diễn đàn trao đổi
   Diễn đàn Lý luận phát triển
   Chung quanh chủ đề OBAMA
   Văn nghệ giải trí
WEBSITE KHÁC

Online:
48

Số lượt truy cập:
1911127
Đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức

 

Đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức

                                                                                                 Đặng Hữu

Đảng ta đã có chính sách rất đúng đắn và nhất quán đối với đội ngũ trí thức: coi hiền tài là nguyên khí quốc gia, giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu v.v… Nhờ đó nước ta đã có một đội ngũ trí thức khá mạnh, trung thành với đất nước và đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong nhiều thập kỷ qua. Thế nhưng đội ngũ ấy vẫn chưa được phát huy tốt và còn bất cập trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Đại hội X của Đảng đã khẳng định phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Nói kinh tế tri thức là nói đến việc sử dụng có hiệu quả nhất tri thức mới của thời đại để phát triển nhanh đất nước mình; điều đó đã nói lên vai trò ngày càng đặc biệt quan trọng của đội ngũ tri thức. Trong thời đại cách mạng tri thức và cách mạng thông tin hiện nay nếu không có môt đội ngũ trí thức đông và mạnh đủ khả năng nắm bắt, vận dụng tri thức mới của thời đại đang bùng nổ và sáng tạo tri thức mới thì không thể hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức được.

Thông thường người ta dùng cụm từ “đội ngũ trí thức” để chỉ tập hợp những nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà giáo, bác sĩ, kỹ sư, luật sư, nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, chuyên gia v.v..., tức là những người có trình độ học vấn và chuyên môn cao, lao động bằng trí óc trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế, có khả năng sáng tạo ra tri thức và vận dụng tri thức vào thực tiễn, làm ra của cải, phục vụ nhu cầu con người và phát triển xã hội. Có bằng cấp hay không bằng cấp cũng đều có thể được coi là trí thức.

Có rất nhiều định nghĩa về trí thức. Chẳng hạn, theo Từ đin tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 1994) thì: “Trí thức là người chuyên làm việc trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005) thì: “Trí thức là tầng lớp xã hội làm nghề lao động trí óc, trong đó bộ phận chủ yếu là những người có học vấn cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh.….Trí thức nói chung thường nhạy cảm với cái mới, tiếp thu và truyền bá những tư tương cách mạng, tiến bộ trong nhân dân, có vai trò rất lớn đối với sự phát triển lịch sử, nhất là trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ ngày nay”….. 

Đặc điểm của trí thức không chỉ là có trình độ học vấn cao, và có năng lực sáng tạo, mà quan trọng là có bản lĩnh, phẩm chất, luôn đem tri thức phục vụ nhân dân, đấu tranh cho tiến bộ xã hội, hạnh phúc của nhân lọai. Thế kỷ 19 ở Pháp người ta gọi trí thức (intellectuel) là “những người không chỉ có học vấn hay trình độ chuyên môn cao, mà hơn hết phải là những người quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị xã hội nóng bỏng của thời cuộc”. Còn trong xã hội Nga lúc bấy giờ người ta gọi trí thức (intelligentsia) là “những người đã dấn thân cho công cuộc hiện đại hóa nước Nga”. Họ coi nhà trí thức như là một nhà hoạt động, nếu không làm cách mạng thì cũng là người quan tâm sâu sắc về chính trị, tham gia tích cực hoạt động xã hội và văn hóa, là người biết suy tư, nhìn xa trông rộng, và hiến mình cho công cuộc cải cách xã hội. Bổn phận người trí thức là trung thực với lương tâm mình, kiên trì lý tưởng được cống hiến cho xã hội, phục vụ tổ quốc và cả nhân loại.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tính thực hành của trí thức: “Trí thức học sách chưa phải là trí thức hoàn toàn, muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế. Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận”.

 Karl Marx nhắc nhở những người trí thức phải đấu tranh cho sự tiến bộ của xã hội: “Trí thức là những người có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến riêng đối với các vấn đề của xã hội, nên họ phải là những người phê bình không nhân nhượng những gì đang hiện hữu…, không nhân nhượng với chính quyền, bất cứ chính quyền nào”.

Người trí thức phải dũng cảm nói lên ý kiến riêng của mình, đấu tranh cho tự do, dân chủ, bình đẳng, công bằng xã hội, hạnh phúc của nhân dân. Trí thức phải trung thực, độc lập, sáng tạo, tự chủ, góp sức mình cho sự nghiệp phát triển của đất nước, phải có tinh thần phê phán hiện trạng, có tinh thần dấn thân. Người trí thức cũng là người có tư cách dẫn đường cho văn hóa, cho học thuật, có trách nhiệm hướng dẫn đời sống tinh thần của xã hội. Nhân loại ngày càng có nhiều vần đề cần sự hướng dẫn của trí thức. Thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội, chủng tộc, tôn giáo, cạn kiệt tài nguyên, thay đổi khí hậu... cần những trí thức trình độ cao, có bản lĩnh, cùng chung sức tìm giải pháp cho đất nước mình và cho nhân loại.

Trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay xuất hiện khái niệm công nhân tri thức (knowledge worker), đó là những người có trình độ học vấn và chuyên môn cao, có năng lực sáng tạo, dùng tri thức để tạo ra sản phẩm trí tuệ (như phần mềm, công nghệ mới, công nghiệp nghệ thuật- creative industry…) hoặc tri tuệ hóa, đưa tri thức, công nghệ vao sản phẩm truyền thống làm tăng gấp bội giá trị của sản phẩm. Ngày nay ở các nước phát triển giá trị do tri thức tạo ra chiếm quá nửa (khoảng 55%) tổng GDP, chủ yếu là do công nhân trí thức tạo ra. Công nhân tri thức chiếm khoảng 30% đên 40% lực lượng lao động. Công nhân trí thức khác với công nhân áo trắng ở trình độ trí thức, khả năng sáng tạo và năng lực biến tri thức thành giá trị.  Ở nước ta ngày nay cũng đã có công nhân trí thức. Theo đà công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức, số công nhân trí thức sẽ tăng nhanh, họ là công nhân đã trí thức hóa, họ cũng là trí thức. Có thể coi công nhân tri thức là bộ phận trùng nhau của hai tập hợp: giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức. Đảng ta từ sớm đã có chủ trương trí thức hóa công nhân và nông dân, và công nhân hóa trí thức, điều đó hoàn toàn phù hợp xu thế phát triển của lực lượng sản xuất, nhờ đó ngày nay nước ta cũng đã có công nhân tri thức, và trong tương lai khi nước ta hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành nền kinh tế tri thức thì đội ngũ công nhân tri thức sẽ là lực lượng chủ lực; họ vừa là công nhân mà cũng là trí thức.  

Trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một nền kinh tế, giá trị sản phẩm phi vật thể ngày càng tăng nhanh, trong đó tài sản trí tuệ là tài sản có giá trị nhất, các ngành công nghiệp tri thức (hàm lượng khoa học và công nghệ rất cao) tạo ra giá trị nhiều nhất. Chính đội ngũ trí thức đã tạo ra của cải to lớn đó. Ngày nay vốn tri thức trở thành nguồn vốn quan trọng nhất để phát triển kinh tế và xã hội, đội ngũ công nhân trí thức là lực lượng chủ yếu để phát triển kinh tế tri thức; do đó vai trò người tri thức càng đặc biệt quan trọng.            

Đội ngũ trí thức có ảnh hưởng lớn đến diễn tiến chính trị, và thực ra họ là những người lãnh đạo xã hội, không những thế, họ là những người tạo ra phần lớn nhất của cải xã hội.

Chính vì thế, trí thức thường đi tiên phong trong các cuộc cải cách, cách mạng xã hội. Trong lịch sử cận đại nước ta, đã có nhiều phong trào cách mạng do các nhà trí thức khởi xướng. Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động, cũng do các nhà trí thức yêu nước đứng đầu là đc Nguyễn Ái Quốc thành lập và lãnh đạo. Muốn thực sự là Đảng tiền phong của dân tộc, Đảng phải kết tinh được trí tuệ của cả dân tộc, phải tập hợp được đội ngũ trí thức, có nhiều trí thức ưu tú đứng trong hàng ngũ của mình, và Đảng cũng là Đảng của trí thức.        

Truyền thống Việt Nam từ xưa đến nay rất coi trọng trí thức. Người xưa có câu "quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách". Trước sự tồn vong của đất nước, trí thức có trách nhiệm rất lớn.  

Khó khăn chính mà Việt Nam sẽ gặp phải trong hội nhập vào nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa là chưa xây dựng được đội ngũ trí thức có trình độ và năng lực ngang tầm các nước, đặc biệt là thiếu những chuyên viên cao cấp, đặc biệt là những người có tố chất và năng lực lãnh đạo, quản lý.

Trong thời đại toàn cầu hóa trí thức nước ta bước vào biển rộng trí thức của thế giới, được học hỏi, hợp tác giao lưu, đọ sức đua tranh với trí thức các nước,  kiến thức và năng lực sẽ được đánh giá, kiểm định theo những chuẩn mực khắt khe hơn. Đây là cơ hội tốt cho trí thức nước ta rọi lại mình, biết rõ hơn mình đang ở đâu, được tiếp thu cách nghĩ, cách làm mới, được dịp nắm bắt những luồng tư tưởng mới, phát hiện ra nhiều phương hướng mới, nảy sinh nhiều sáng kiến mới, thêm tự tin, thêm sức sáng tạo. Đây cũng là thách thức to lớn đối với những ai không có tư duy độc lập, không có chính kiến, không có bản lĩnh, họ sẽ không thể đứng vững, thậm chí còn bị tiêm nhiẽm những thói hư tật xấu, mất phương hướng, và mất cả bản săc văn hóa dân tộc. Đã có những trường hợp công trình nghiên cứu của người nước ngoài về kinh tế hay văn hóa Việt Nam lại có chất lượng hơn, sâu sắc hơn các nghiên cứu của học giả Việt Nam!   

Do lịch sử hình thành, đội ngũ trí thức nước ta có nhiều đặc điểm riêng biệt: Đội ngũ trí thức lớn lên cùng với đất nước. Từ ngày lập quốc, trải qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước, cho đến ngày nay đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặc dù trải qua nhiều biến cố lịch sử, đội ngũ ấy có nhiều biến động, nhưng nhìn chung, đó là đội ngũ đã được tôi luyện, trải qua nhiều thử thách, thấm đượm tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, có bản lĩnh, ý chí, quyết tâm đưa đất nước lên tầm cao mới, sánh vai với các cường quốc.

Trước và sau Cách mạng tháng Tám, với sự lãnh đạo tài tình, biết động viên khuyến khích, tôn trọng và sử dụng đúng người, đúng việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được hầu hết trí thức người Việt Nam dưới thời thuộc Pháp và một số trí thức ở nước ngoài về nước tham gia cách mạng, giao cho họ giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước (chính quyền công nông nhưng các bộ trưởng là trí thức!), họ đã đóng góp những giá trị lớn lao cho cách mạng.

Trong thời kỳ chiến tranh giải phóng miền Nam bảo vệ miền Bắc, đội ngũ trí thức nước ta chủ yếu là được Đảng và Nhà nước đào tạo: gửi đi đào tạo ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, sau đó chủ yếu là đào tạo trong nước theo đường lối giáo dục của Đảng, chịu ảnh hưởng nhiều của nền giáo dục Liên Xô. Đây là một đội ngũ tương đối thuần nhất, “vừa hồng vừa chuyên”, có trình độ chuyên môn khá, trung thành với tổ quốc và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, luôn mong muốn được cống hiến, không sơ gian khổ hiểm nguy, sẵn sàng hy sinh vì đất nước, vì dân tộc, đã phát huy được tác dụng trên hầu hết các mặt trận kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, quốc phòng, an ninh…

Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, tuy có một số ít trí thức Miền Nam đi ra nước ngoài, nhưng đại bộ phận trí thức miền Nam đã hòa hợp vào đội ngũ trí thức cả nước. Nước ta có một đội ngũ trí thức đông đảo, bao quát tất cả các lĩnh vực, số lượng ngày càng tăng nhanh, kiến thức không ngừng được cập nhật, năng lực ngày càng được nâng cao, đó là lực lượng chủ lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức. Nguồn đào tạo khác nhau, môi trường hoạt động khác nhau (phương đông và phương tây, kinh tế bao cấp và kinh tế thị trường…) phong cách, thói quen, cách nghĩ, cách làm khác nhau, nhưng đội ngũ trí thức cả nước đã đoàn kết lại, cùng chung sức xây dựng một nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Các ưu khuyết điểm, điểm mạnh điểm yếu của các bộ phận khác nhau được bổ sung cho nhau, làm tăng thêm sức mạnh. Thời kỳ này cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với trí thức Việt Nam về trình độ, năng lực, bản lĩnh, phẩm chất, ý chí.

Trong chiến tranh cũng như trong xây dựng hòa bình, mọi nơi, mọi lúc đều có những trí thức đem hết tâm huyết và trí tuệ ra phục vụ đất nước, thực hiện tốt những nhiệm vụ chuyên môn, thúc đẩy phát triển khoa học, giáo dục, văn hóa…, nghiên cứu giải quyết những vấn đề đang đặt ra, tham gia vào hoạch định chính sách, chiến lược, phản biện đối với các dự án, các chủ trương chinh sách của Đảng và Nhà nước..., nhiều người tận tụy chịu đựng gian khổ suốt cả đời để có những công trình tác phẩm có ý nghĩa đối với xã hội, có những người đã đổ xương máu, hy sinh cả tính mạng trong cuộc chiến tranh thần thánh. 

Đất nước vẻ vang, dân tộc anh hùng, Đảng sáng suốt, đã tạo dựng được một đội ngũ trí thức có năng lực trí tuệ, giàu lòng yêu nước, tự hào về dân tộc, tha thiết muốn cống hiến, góp sức làm rạng danh đất nước.

Chuyển sang thời kỳ đổi mới và hội nhập, trí thức Việt Nam vốn có tiềm năng phát triển đã nắm bắt nhanh và vận dụng sáng tạo các tri thức mới của thế giới, góp phần đắc lực thúc đẩy công cuộc đổi mới. Tuy vậy, vốn quen sống trong một ngôi nhà có “khuôn khổ”, khi bước vào thị trường toàn cầu hóa, trí thức nước ta không khỏi bỡ ngỡ, lúng túng, tính năng động sáng tạo chậm được phát huy, cách làm việc chưa tương hợp với các nước; một số người cảm thấy như mất phương hướng trước những nghịch lý, bất công trong xã hội mới, những cám dỗ của kinh tế thi trường.

Nhìn chung về đội ngũ thì số lượng đông, phẩm chất tốt, trình độ không kém các nước xung quanh nhưng hiệu quả không cao, tiềm năng chất xám chưa được phát huy. Đội ngũ không đồng bộ về cơ cấu ngành, cơ cấu trình độ, cũng không định hướng và tập trung để hình thành những thế mạnh của quốc gia; thiếu những người có khả năng chỉ huy các tập thể lớn, đảm nhận những chương trình, dự án lớn; còn ít những tập thể, đơn vị, tổ chức thực sự gắn bó nhau vươn lên nhanh; quá ít những công trình, tác phẩm, những nhà khoa học, nhà văn… nổi tiếng thế giới. Cũng cần thẳng thắn nhìn nhận một số nhược điểm còn tồn tại của đội ngũ trí thức hiện nay như: tinh thần tự đào tạo chưa cao, tư duy độc lập và khả năng phản biện xã hội với tinh thần xây dựng còn thấp, đôi khi còn thiếu tinh thần hợp tác.

Lực lượng trí thức người Việt ở nước ngoài là một bộ phận rất quan trọng của đội ngũ trí thức Việt Nam. Do nhiều nguyên nhân khác nhau trong lịch sử, hiện nay Việt Nam có khoảng gần 3 triệu Việt kiều đang sinh sống ở 90 quốc gia, trong đó có khoảng 80% làm ăn sinh sống tại các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt có khoảng 300. 000 người có trình độ từ đại học trở lên, nhiều nhà trí thức, khoa học có tên tuổi trên thế giới, nhiều doanh nhân thành đạt. Đây thực sự là nguồn tài sản quý báu của đất nước, là một bộ phận của đội ngũ trí thức Việt Nam đang hướng về tổ quốc. Đây là một tiềm năng chất xám, một kho tri thức mới của các nước tiên tiến, một kênh chuyển giao tri thức về Việt Nam rất quan trọng.

Đánh giá đúng vai trò của Việt kiều, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương về chính sách đại đoàn kết dân tộc, gác lại quá khứ hướng tới tương lai, mà thể hiện đầy đủ nhất trong nghị quyết số 36 của Bộ Chính trị về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết ấy đang đi vào cuộc sống.

Nhiều trí thức Việt kiều đã làm cầu nối để giúp đất nước tiếp thu công nghệ tiên tiến, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hoá. Tuy nhiên, sự đóng góp chất xám, công nghệ của Việt kiều cho đất nước vẫn còn ở mức khiêm tốn.

Việt kiều góp phần làm cầu nối của đất nước với thế giới, do vậy không chỉ có các chính sách hướng nội, thu hút đầu tư Việt kiều về nước, mà cần có những chính sách, biện pháp, khuyến khích giúp cho các cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phát triển, bám trụ bền vững tại nước sở tại, từ bên ngoài đóng góp cho đất nước.

 

Để phát triển và phát huy hơn nữa đội ngũ trí thức Việt Nam trong giai đoạn mới, nguồn lực chủ yếu quyết định nhất đối với thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức, cần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa chính sách đối với đội ngũ trí thức, mà trước hết là đổi mới tư duy về chính sách phát triển dựa trên tri thức, và đánh giá đúng vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức trong sự ngiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức.    

Chính sách quan trọng nhất đối với trí thức là sự tin dùng, dân chủ, tôn trọng ý kiến riêng của mỗi người, tạo điều kiện thuận lợi cho họ phát huy hết tài năng sáng tạo. Người trí thức luôn mong muốn có "đất dụng võ", được Đảng và Nhà nước tin dùng, được giao đúng việc, đúng người.

Muốn trí thức đóng góp xứng đáng cho đất nước, cần tạo được không khí cởi mở, dân chủ, tin tưởng lẫn nhau. Điều kiện cần thiết cho sự phát triển lành mạnh của trí thức là tự do tư tưởng, tự do ngôn luận. Trí thức không đòi hỏi nhiều về đãi ngộ mà họ cần trước hết là môi trường cho sự sang tạo và điều kiện làm việc. Mong ước của họ là khám phá ra những cái mới, và có những công trình sáng tạo phục vụ nhu cầu của nhân dân và đất nước. Để phát triển năng lực tư duy, tinh thần sáng tạo, phải có môi trường thực sự cới mở, dân chủ, ở đó những ý kiến khác nhau được tranh luận một cách bình đẳng, thuyết phục nhau, không dùng quyền uy để áp đặt. Những ý tưởng mới cần được khuyến khích phát triển, để cho các tài năng nảy nở, sức sáng tạo phát triển. Gò bó, áp đặt buộc phải theo một khuôn khổ định sẵn sẽ làm nản lòng người trí thức, hạn chế sự tìm tòi, sáng tạo. Đối với những người có nhận thức, quan điểm lệch lạc thì cần đối thoại, tranh luận, để thuyết phục để họ “tâm phục khẩu phục”, không nên qui chụp, càng phải tránh trù dập.

Hầu hết những trí thức Việt Nam tham gia kháng chiến đều vì độc lập dân tộc, và tự do dân chủ. Nếu không có một không gian tự do đủ để tiếp cận với sự thật thì khó có thể tạo ra và tồn tại một đội ngũ trí thức thực sự.

Đi đôi với tin dùng, dân chủ, tự do cần kịp thời khích lệ, khen thưởng, tôn vinh nhân tài, chú ý sự công bằng và không bỏ sót.

Để tạo môi trường làm việc cho trí thức đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa chính sách phát triển kinh tế dựa vào tri thức, vào khoa học và công nghệ. Một mặt phát triển kinh tế thị trường, thúc đẩy cạnh tranh, nhà nước mở rộng chính sách xã hội hóa nhiều lĩnh vực, trí thức sẽ có điều kiện phát huy tác dụng, nhất là cán bộ khoa học và công nghệ có thể mở rộng công tác nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ, dịch vụ tư vấn, sản xuất kinh doanh công nghệ… Mặt khác Nhà nước có chính sách, cơ chế, biện pháp huy động lực lượng trí thức tham gia xây dựng luận cứ cho việc hoạch định chiến lược, chính sách,  chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, và nhất là qui hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, chủ trương đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia. Làm như thế không những bảo đảm hiệu quả của đầu tư, mà còn làm phấn chấn đội ngũ trí thức, khơi dậy sự sáng tạo, động viên trí thức hăng hái đóng góp trí tuệ cho đất nước. Hiện nay vẫn còn nhiều hội đồng làm việc một cách hình thức, lấy lệ, nhiều nhà khoa học cảm thấy mình đứng ngoài cuộc, không có trách nhiêm, không được tin dùng. Thực tế thì đã có rất nhiều công trình lớn đầu tư không hiệu quả, trước đó đã có rất nhiều ý kiến của giới trí thức bị bỏ qua. Đó không chỉ là sự thiệt hại lớn về kinh tế mà còn làm suy giảm lòng tin, nhiệt tình của đội ngũ tri thức. Cần tổ chưc các hội đồng khoa học thực sự tập hợp được trí tuệ, có đủ thẩm quyền về khoa học. Tránh việc thành lập các hội đồng khoa hoc theo “sở thích” của người lãnh đâọ, quản lý, cốt để cho dự án được thong qua. Các hội đồng khoa học được tổ chức theo những mô hình tổ chức rất khác nhau, chức năng, nhiệm vụ, tính chất cũng rất khác nhau, nhưng các thành viên của hội đồng khoa học phải được bình bầu, tuyển chọn nghiêm túc.             

Cần tạo điều kiện làm việc và có chế độ đãi ngộ hợp lý để trí thức có thể tập trung hết tâm sức cho nghiên cứu tìm tòi sáng tạo và cống hiến. Nhiều nhà giáo, nhà khoa học không thể sống bằng nghề chính của mình với dồng lương quá “bèo bọt”, phải làm nhiều việc khác để kiếm sống, như thế làm sao nước ta có nhiều trí thức lớn, chưa nói đến nguy cơ trí thức bị tha hóa. Có những thầy giáo phải dạy ngày, dạy đêm để có thể nuôi gia đình, họ rất khổ tâm không phải vì thiếu thốn vật chất, mà là nỗi buồn, sự xấu hổ của một kẻ sĩ. Họ phải chọn lựa, một bên là bảo vệ hình ảnh của một trí thức chân chính, bên kia là gia đình, và họ buộc phải chọn gia đình! Không thể đổ lỗi vì ngân sách quá eo hẹp nên không thể trả lương cho trí thức làm việc trong khu vực nhà nước.

Tạo điều kiện cho những tài năng phát triển không chỉ trách nhiệm của nhà nước mà còn của cả xã hội; nhà nước có chủ trương xã hội hóa các lĩnh vưc, và phát triển mạnh kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường có sự can thiệp của nhà nước, với các quỹ đầu tư mạo hiểm, hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ, hỗ trợ tài năng trẻ, sẽ thúc đẩy hình thành và phát triển các doanh nghiệp khoa học công nghệ, các tài năng trẻ sẽ phát huy năng lực sáng tạo của mình. Nhiều doanh nghiêp khoa học công nghệ trẻ đã hình thành và phát triển ở nước ta trong hơn một thập kỷ qua, điển hình nhất là công ty phần mềm Dolsoft phát triển như ngày nay là nhờ một chủ doanh nghiệp đầu thập kỷ 90 đã “nuôi không điều kiện” khoảng hai mươi nhà toán học trẻ tốt nghiệp xuất sắc ở Nga về chưa có việc làm, hai năm sau đó các nhà toán học trẻ đã tự sáng tạo ra nhiều phần mềm thương mại hóa và từ đó hình thành và phát triển rất nhanh Công ty Dolsoft. Đó cũng là cách sử dụng các nhà khoa học ở Mỹ thời ký đầu cách mạng khoa học và công nghệ (thập kỷ 60, 70), và từ đó loại hình đầu tư mạo hiểm phát triển rất nhanh ngày nay.

Để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức, phải chăm lo sự nghiệp giáo dục. Nền giáo dục nước ta đã phát triển nhanh, đạt nhiều thành tựu to lớn nhưng đang còn nhiều bất cập trước yêu cầu hội nhập quốc tế, đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển kinh tế tri thức. Giáo dục trở thành vấn đề nóng bỏng, được sự quan tâm của mọi người. Một cuộc cách mạng toàn diện sâu săc trong giáo dục trở thành hết sức cấp bách: phải cải cách triệt để, sâu sắc cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, hệ thống giáo dục, đến phương thức tổ chức quản lý giáo dục - đào tạo.

Mục tiêu của giáo dục phải nhằm vào đào tạo những con người có bản lĩnh và năng lực, có tư duy độc lập, năng động và sáng tạo, có tiềm năng phát triển, không ngừng vươn lên đóng góp nhiều nhất cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời đại toàn cầu hóa. Mục tiêu giáo dục phải toàn diện: Học là để xây dựng nhân cách, xây dựng năng lực cho con người; học để có thể làm việc trong cộng đồng, có cống hiến cho xã hội, để có thể tự khẳng định mình trong cuộc sống. 

Chuyển trọng tâm của giáo dục từ trang bị kiến thức sang bồi d­ưỡng rèn luyện phư­ơng pháp t­ư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, khả năng tự đào tạo, thích nghi sự phát triển. Kiên quyết khắc phục phương pháp giảng dạy cũ kỹ lạc hậu, thầy giảng trò ghi, thụ động, một chiều. Nội dung chương trình phải hiện đại nhưng tinh giản. Trang bị cho người học những kiến thức cơ bản nhất, dĩ nhất biến ứng vạn biến, và giúp người học biết nhân lên vốn tri thức cho mình, hướng dẫn người học phương pháp tiếp thu tri thức mới, tự tìm đến chân lý, phát triển tư duy độc lập, tính tự tin, biết phân tích phê phán, trí sáng tạo, phương pháp tự đào tạo, phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề. Điều quan trọng nhất của người thầy không phải là truyền đạt tri thức (tuy rằng  việc truyền đạt những kiến thức cơ bản nhất vẫn là cần) mà quan trọng nhất là hướng dẫn cho sinh viên phương pháp tự đào tạo, giúp sinh viên chủ động phát triển tư duy độc lập, trí sáng tạo của mình; sinh viên biến quá trinh đào tạo thành quá trình tự đào tạo; trong quá trình dạy học phải chuyển từ lấy thầy giáo làm trung tâm sang lấy sinh viên làm nhân vật trung tâm; đó là mấu chốt trong cải cách giáo dục.    

Mặt khác phải chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống - đào tạo kỹ năng để ra làm việc cho đến nghỉ hưu, sang mô hình giáo dục mới: hệ thống học tập suốt đời, phát triển nghề nghiệp liên tục, theo đó nhà trường đào tạo những kỹ năng cơ bản để người học ra trường vừa lao động vừa học tập (đào tạo) suốt đời. Theo mô hình này, người lao động bất cứ lúc nào, ở trình độ nào cũng có thể về trường (hoặc qua mạng) học tiếp. Hệ thống giáo dục trở nên linh hoạt hơn, đa dạng hơn, mở cửa hơn cho mọi người, nó cũng gắn bó hơn với cuộc sống, với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.   

Đổi mới mạnh mẽ hệ thống quản lý giáo dục, tập trung vào vấn đề quản lý chất lượng. Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đào tạo, tăng cường thanh tra kiểm tra, thay đổi cách tổ chức thi cử, tuyển sinh, khắc phục tình trạng nặng về quản lý đầu vào, nhẹ quản lý đầu ra; kiên quyết chống bệnh thành tích đang ngăn cản con đường đi tới chất lượng. Tăng quyền chủ động cho các trường; các trường chủ động tổ chức thực hiện quá trình đào tạo và chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo. Trong nền kinh tế thị trường, có thị trường lao động, thì sản phẩm của giáo dục là hàng hoá đặc biệt phải được thị trường đánh giá, lựa chọn, chấp nhận. Không cho phép thương mại hoá giáo dục, chạy theo lợi nhuận tối đa; nhưng cần vận dụng cơ chế thị trường để huy động các nguồn lực và tạo thêm động lực cho phát triển giáo dục. Trong một xã hội có hệ thống đánh giá, sử dụng, đãi ngộ đúng đắn thì sự cạnh tranh giữa các trường sẽ thúc đẩy nâng cao chất lượng đào tạo. Nhà nước vừa chăm lo xây dựng một số trường trọng điểm chất lượng cao, ngang tầm quốc tế; vừa thực hiện chính sách công bằng xã hội, tạo điều kiện để cho người nghèo, những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, đều có cơ hội đi học để phát huy hết khả năng của mình.

Cần có những chính sách khuyến kích để các thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện học tập, thực hành, tiếp xúc với các lĩnh vực khoa học tại những nước tiên tiến. Đồng thời phải có các biện pháp tuyên truyền giáo dục để các công dân Việt Nam ý thức được vai trò của mỗi người Việt Nam đối với công cuộc xây dựng đất nước. Đối với các thế hệ tiếp theo của người Việt ở nước ngoài, họ thường có ưu thế là được đào tạo, làm việc trong các môi trường thuận lợi tại các nước phát triển, nhưng cần phải duy trì ngôn ngữ Việt, văn hoá và phong tục tập quán Việt, để họ ý thức được mình là người Việt Nam, ý thức được tình cảm và nghĩa vụ đóng góp cho cộng đồng, cho Tổ quốc. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, cần từng bước xây dựng và phát huy được được văn hoá doanh nghiệp Việt Nam, vừa phát huy, kết hợp những tinh hoa văn hoá dân tộc Việt với tri thức khoa học tiên tiến, tạo nên một phong cách Việt trong cuộc canh tranh toàn cầu.

Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, không phải chỉ có hồi hương trí thức người Việt mới phục vụ đất nước. Đóng góp của họ cho đất nước, nếu họ mong muốn, có thể được thực hiện từ bất cứ nơi nào trên thế giới nhờ những tiện ích của toàn cầu hóa ngày nay. Phải thông cảm rằng một người trí thức trong thời đại ngày nay có rất nhiều trăn trở về sự nghiệp, về vị trí của họ trên bản đồ trí thức nhân loại. Hãy cho họ tự do theo đuổi hoài bão chân chính của họ. Đối với những trí thức trẻ, nếu họ muốn có thêm thời gian làm việc ở các nước có trình độ phát triển cao để tích lũy nhiều kinh nghiệm, thì cũng nên   tạo điều kiện để họ có thể phát huy tác dụng nhiều hơn khi về nước.

   



Tệp đính kèm:
Đoi ngu tri thuc- tapchi lyluan 5-2008.doc

Ngày cập nhật: 14/11/08
GS.VS Đặng Hữu


 

TIÊU ĐIỂM
• Tư liệu nghiên cứu
• Cuộc cách mạng bao trùm
• Tư liệu tham khảo mới
• Tham gia bàn về cải cách hành chính - lựa chọn, đào tạo, xử dụng và tôn vinh cán bộ hành chính nhà nước
• Cùng tìm kiếm một con đường mới- Phần II
Tôn chỉ, mục đích
1. Nghiên cứu những vấn đề cơ bản trong lĩnh vực phát triển
2. Tiến hành tư vấn, phản biện, thẩm định và các dịch vụ KH&CN liên quan đến những vấn đề phát triển
3. Tổ chức bồi dưỡng kiến thức về khoa học phát triển
4. Tổ chức diễn đàn về vấn đề phát triển
5. Cung cấp thông tin, xuất bản ấn phẩm về những vấn đề phát triển
6. Hợp tác trong mạng lưới các tổ chức nghiên cứu phát triển

Bản quyền 2005 thuộc Viện Những Vấn đề Phát Triển
Địa chỉ: 14 Lê Phụng Hiểu - Hoàn Kiếm - Hà Nội. 
Điện thoại: 04-9350984 ,  Fax: 04-9350984